VNPARIS - Communication vietnamienne
.

Accueil
TIN SINH HOẠT
HỘI ĐOÀN
NỐI MẠNG
GOM GÓP
THỰC DỤNG
LIÊN LẠC

Exposition des Reliques du Bouddha
Oct 2006 à Paris

 

Trésors d’art du Vietnam, exposés au Musée GUIMET

 

LịchSử Địa Dư:

Nguyễn Thái Học Và Sách Lược Dân Chủ Hoá Đông Dương

(trích từ trang http://www.vietnamreview.com/ )



Nguyễn Đại Việt, Ph.D.
Ngày 10 tháng 2, 2006
(Tặng tuổi trẻ Việt Nam của mọi thế hệ)

Hình: Nhà Cách Mạng Nguyễn Thái Học.

Nguyễn Thái Học là một trong những nhà cách mạng và lãnh tụ Việt Nam có tầm vóc, và trẻ tuổi nhất trong lịch sử đấu tranh cho dân chủ, tự do và tiến bộ của nhân loại trong đầu thế kỷ 20. Ông là người chỉ huy và lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng trong cuộc khởi nghĩa giành lại chủ quyền cho Việt Nam, giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của người Pháp. Cuộc nổi dậy và tổng tấn công được phát động vào ngày 10 tháng 2 năm 1930, diễn ra trên toàn cõi Bắc Kỳ, mà sau này được lịch sử mệnh danh là cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái. Cuộc tổng khởi nghĩa này là một kế hoạch nằm trong sách lược Dân Chủ Hoá Đông Dương của Nguyễn Thái Hoc.


Sau khi triều đình nhà Nguyễn bị ép buộc ký hoà ước Nhâm Tuất năm 1862, hợp thức hoá sự cai trị của Pháp tại Việt Nạm Trong suốt thời gian từ năm đó cho đến trước năm 1930, các phong trào đấu tranh chống Pháp được dấy lên liên tuc. Mục đích duy nhất của tất cả các cuộc đấu tranh là đánh đuổi người Pháp, giành lại chủ quyền cho Việt Nam. Hầu hết lãnh tụ các cuộc kháng chiến trong thời gian này đều có khuynh hướng duy trì chế độ quân chủ phong kiến sau khi thành cộng.

Trong khi đó, ngoài mục đích giành lại độc lập cho đất nước và tự do cho dân tộc, cuộc Khởi Nghĩa Yên Bái còn mang một sắc thái mới, một sắc thái cách mạng đúng nghĩa, là thay thế chế độ phong kiến bằng một thể chế dân chủ tiến bộ hơn.

Vào thời điểm khi cuộc Khởi Nghĩa Yên Bái xảy ra, thế giới còn phân hoá, chậm tiến, và chưa có công pháp quốc tế như bây giờ. Thời kỳ này là thời kỳ của quyền lực, tiêu diệt, và thống trị, điển hình qua chính sách thuộc đia. Một chính sách được các cường quốc, đặc biệt là các cường quốc tây phương, cổ cõ và triệt để ủng hô. Nói một cách khác, đây là thời kỳ mà các cường quốc tranh nhau đi chinh phục các nước nhược tiểu, hổ trợ nhau trong việc cai trị, để khai thác tài nguyên của các thuộc địa và dân bản xứ. Nhìn chung, thế giới đang ở trong một hoàn cảnh khá hỗn loạn và phức tạp, bao gồm nhiều khuynh hướng chính trị, kinh tế, và xã hội khác nhau. Một trong những khuynh hướng ấy là khuynh hướng đòi lại Tự do và giành lại Độc lập của dân các nước thuộc đia. Khi ấy, cụm từ Tự do-Độc lập trở nên phổ biến, thường được dùng làm khẩu hiệu, thường thấy đọc trên đôi môi của người dân bản xứ và thường được thấy trong các giấc mơ của họ.

Việt Nam thuở bấy giờ là một nước nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu ở Đông Dương, đã bị người Pháp đô hộ và cai trị trong một thời gian dài. Khái niệm Độc Lập Tự Do là một khái niệm quen thuộc và dễ hiểu đối với ho. Nhưng khái niệm Dân Chủ thì còn quá mới mẻ và xa lạ, nếu không nói là mơ hồ, đối với một xã hội mà đa số là nông dân và thất hoc. Thành phần được đi đến trường rất hiếm hoi, nhất là các trường do Pháp thành lập và bảo hô. Tệ hơn nữa, sống trong một chế độ phong kiến, người dân Việt Nam còn chịu thêm sự áp bức và bóc lột bởi chế độ thuộc địa của người Pháp. Trong một hoàn cảnh xã hội như vậy, người ta khó lòng để mường tượng chứ đừng nói đến lĩnh hội được cái khái niệm dân chủ trừu tượng và mơ hồ kia. Đây là một hiện thực và là một thảm trạng chung của dân tộc ba nước Việt Nam, Lào và Cambodia, thường được gọi là ba nước Đông Dương, vào những năm của thập niên 1920.

Sự khai thác và bóc lột của chính sách thuộc địa là nguyên nhân chính đưa đến các cuộc khởi nghĩa liên tục trong suốt thời gian người Pháp cai trị Việt Nam. Đa số các cuộc khởi nghĩa được tổ chức và tham gia bởi hầu hết các tầng lớp của xã hội, bao gồm công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, và giới sĩ phu. Vào năm 1927, Nguyễn Thái Học, một sinh viên của trường cao đẳng thương mại do Pháp bảo hộ, cùng với một số sinh viên và các thành phần yêu nước của hai vùng Bắc Kỳ và Trung Kỳ bí mật thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, một đảng cách mạng, với mục đích giải phóng đất nước khởi sự thống trị của người Pháp và thay thế chế độ quân chủ phong kiến bằng một chế độ dân chủ.

Căn cứ theo sử liệu thì Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông đã hoạch định sẽ thiết lập một thể chế Dân Chủ ở Việt Nam, Lào và Cambodia sau khi thành công trong việc đánh đuổi người Pháp ra khỏi Đông Dượng. Nói một cách khác, người sinh viên Nguyễn Thái Học muốn giải phóng và dân chủ hoá toàn cõi Đông Dượng. Ông đã khai triễn sách lược này bằng cuộc Khởi Nghĩa Yên Bái vào ngày 10 tháng 2 năm 1930.

Thực vậy, trong ngày thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, và cũng là kỳ đại hội lần thứ nhất của đảng cách mạng này, được tổ chức bí mật vào ngày 25 tháng 12 năm 1927 tại Hà Nôi. Nguyễn Thái Học được bầu làm chủ tịch, và dưới sự lãnh đạo của ông, tất cả các đại biểu đã cùng vạch ra mục tiêu đấu tranh cho tổ chức của họ và được ghi lại trong văn kiện sau đây:

“Mục đích và tôn chỉ của Đảng là làm một cuộc cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, để lập nên một nước Việt Nam Cộng Hoà . Đồng thời giúp đỡ các dân tộc bị áp bức trong công cuộc tranh đấu giành độc lập của họ đặt biệt là các lân quốc: Ai Lao và Cao Miên”. (1)

Suốt thời gian bị cai trị, người Việt đã biết bao lần xử dụng phương thức ngoại giao, thương thảo và điều đình với Pháp để đòi lại chủ quyền nhưng đều thất bai. Người Pháp không chấp nhận bất kỳ hình thức ngoại giao nào của người bản xứ, nếu sự thương thuyết ấy có liên quan đến việc trả lại chủ quyền cho dân tộc đó. Lý do đơn giản là người Pháp đang cố duy trì chính sách thuộc địa, khai thác tài nguyên của các nước nhược tiểu và dân bản xứ, nhằm phục vụ việc phát triễn kinh tế của nước Pháp, nên chưa có ý định rời bỏ Đông Dượng. Trường hợp của Nguyễn Thái Học cũng không ngoại lệ, ông cũng đã gặp và viết thư cho Varenne, Toàn quyền Đông Dương, nhưng đã không nhận được một sự trả lời nào của ho. Vì không còn giải pháp nào khác nên Nguyễn Thái Học đã quyết định làm một cuộc cách mạng vũ trang, đánh đuổi người Pháp ra khỏi Việt Nạm

Không những chỉ đánh đuổi người Pháp ra khỏi đất nước của ông, người sinh viên 25 tuổi còn muốn giúp các dân tộc trong vùng đang bị đô hộ giành lại độc lập và tự do cho quốc gia ho. Trong đó Lào và Cambodia, là hai quốc gia láng giềng của Việt Nam, và cũng là những thuộc địa của Pháp. Nói một cách khác, văn kiện trên đây chứng tỏ công cuộc giải phóng toàn cõi Đông Dương khỏi ách thống trị của Pháp là một trong hai mục tiêu đấu tranh chính của Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Có hai lý do để Nguyễn Thái Học quyết định giải phóng Đông Đượng. Ngoài lý do “thấy cảnh bất bình rút đao tương trợ”, người có thể hiểu là việc giải phóng Lào và Cambodia nằm trong mục tiêu chiến lược liên quan đến nền độc lập và hoà bình lâu dài cho Việt Nam. Lãnh tụ họ Nguyễn và các đại biểu không thể không nhìn thấy thế chiến lược quan trọng về phương diện chính trị và quân sự của ba nước Đông Dương đối với cuộc đấu tranh cách mạng của ho. Ông ta và các đồng chí chắc chắn đã nhận định rằng độc lập, tự do, dân chủ của Lào và Cambodia liên quan mật thiết đến độc lập, tự do, dân chủ của Việt Nam.

Do đó, quyết định hổ trợ Lào và Cambodia đánh đuổi người Pháp là một nhận định khôn ngoan và thật cần thiết. Thật vậy, khi nhìn vào vị trí của ba nước này trên bản đồ thì bất kỳ người nào, không cần phải là một nhà quân sự lỗi lạc, cũng có thể lập luận là nếu chỉ đánh đuổi người Pháp ra khỏi Việt Nam, không sớm thì muộn, từ thuộc địa Lào và Cambodia, chắc chắn họ sẽ trở lại Việt Nam. Từ trước đến nay, Lào và Cambodia luôn luôn được xem là những quốc gia vô cùng quan trọng trong chiến lược phòng thủ biên giới trọng yếu phía Tây của Việt Nam.

Khi người ta nói đến thể chế Cộng hoà có nghĩa là người ta đang nói về thể chế Dân chủ. Cộng hoà là một tên gọi khác của Dân chủ. Mục đích đấu tranh thứ hai của Việt Nam Quốc Dân Đảng, theo văn kiện trích dẫn trên đây, là thành lập một nước Việt Nam Công Hoà sau khi thành công trong việc đánh đuổi người Pháp ra khỏi Đông Dượng. Mục tiêu này diễn tả đầy đủ tính chất cách mạng của tổ chức mà họ thành lâp. Cách mạng là thay đổi cái cũ, lạc hậu bằng cái mới tốt đẹp và văn minh hơn. Cuộc cách mạng của họ là thay chế độ quân chủ phong kiến bằng chế độ dân chủ sau khi mục tiêu thứ nhất được hoàn thạnh

Tuy văn kiện không nói rõ việc thành lập nền Cộng hoà hay Dân chủ ở Lào và Cambodia, nhưng từ mục đích hổ trợ các dân tộc Lào và Cambodia giải phóng đất nước của họ, thêm sự phân tích tư thế chiến lược của ba nước đã được trình bày, cho phép người ta suy luận là Việt Nam Quốc Dân Đảng sẽ giúp đỡ và hổ trợ phong trào, hoặc đảng phái nào có khuynh hướng đấu tranh cách mạng tương tự như khuynh hướng đấu tranh của ho. Vã lại, một khi công cuộc giải phóng thành công, chắc chắn mối quan hệ giữa ba nước này sẽ trở nên mật thiết hơn. Việt Nam sẽ được xem là một nước láng giềng tốt, và là một đồng minh đáng tin cậy trong việc bảo vệ, canh tân và phát triễn đất nước của họ, cũng như của Đông Dương. Lập luận xây dựng thể chế Dân chủ ở Lào và Cambodia, và Việt Nam sau khi Nguyễn Thái Học thành công trong việc giải phóng Đông Dương là một lập luận hợp lý. Một ví dụ cụ thể là Cộng sản quốc tế, trong đó có Cộng sản Trung quốc, hổ trợ đảng Cộng sản Việt Nam, Cộng sản Việt Nam giúp đỡ đảng Cộng sản Lào và đảng Cộng sản Cambodia, kết qủa là tất cả các quốc gia này đều theo chế độ Cộng sản.

Cũng trong đêm 25 tháng 12 năm 1927, sau khi đưa ra mục tiêu đấu tranh đánh đuổi người Pháp ra khỏi Việt Nam, Lào va Cambodia, Nguyễn Thái Học cùng với 36 đại biểu đại diện cho 14 tỉnh Ba‘c Kỳ và Trung Kỳ, đa số cùng trạc tuổi với ông, vạch ra một lộ trình cho Việt Nam Quốc Dân Đảng, trong kế hoạch thực hiện mục tiêu của sách lược Dân Chủ Hoá Đông Dương. Trong cái đêm lịch sử đó, họ đã chia lộ trình của cuộc đấu tranh làm nhiều giai đoan. Giai đoạn cuối của lộ trình là giai đoạn kiết thiết, được chia làm ba thời kỳ và ghi lại trong văn kiện sau:

1) Thời kỳ Quân chính: Quân cách mạng chiếm được đến đâu là lập ngay chính quyền cách mạng quân sự đến đó .
2) Thời kỳ Huấn chính: Tổ chức các cơ cấu dân cử, trực tiếp hoặc gián tiếp giáo hoá dân quen với nếp sống dân chủ về các thể chế mới, vv.. Trong hai thời kỳ này áp dụng nguyên ta‘c “Dĩ Đảng Trị Quốc .
3) Thời kỳ Hiến chính: Tổ chức phổ thông đầu phiếu bầu cử Quốc Dân Đại hội, xây dựng Hiến pháp và trao trả chính quyền lại cho toàn dân “. (2)

Trong ba thời kỳ của giai đoạn kiết thiết, thì hai thời kỳ sau là đáng chú ý, vì nó đề cập đến việc thành lập một thể chế dân chủ cho Việt Nam. Nội dung của thời kỳ Huấn chính chứng tỏ là họ đã nghiên cứu những khó khăn trong quá trình thay đổi chế độ từ phong kiến sang dân chủ. Cái khó khăn nhất mà họ đương đầu là nâng cao trình độ văn hoá và kiến thức của người dân. Điều này được diễn tả trong văn kiện khá rõ ràng qua kế hoạch tổ chức các cơ cấu dân cử, cũng như kế hoạch giáo hóa người dân về bổn phận, trách nhiệm, và quyền hạn của họ trong một chế độ dân chủ. Và đó cũng là lý do tại sao họ đưa ra kế hoạch "Dĩ Đảng Trị Quốc" trong thời gian này.

Thời kỳ này là giai đoạn đất nước chuyển tiếp từ chế độ quân chủ phong kiến sang chế độ dân chủ. Đòi hỏi một sự chuẩn bị công phu, và chu đáo để trang bị những kiến thức căn bản về dân chủ cho người dân. Giai đoạn chuyển tiếp là giai đoạn tranh tối tranh sáng. Quyền dân chủ có thể bị vi phạm một cách nghiêm trọng vì vô tình hoặc cố ý. Không cẩn thận thì đất nước sẽ rơi vào hoàn cảnh rối loạn, xã hội mất an ninh trật tự, cuộc sống người dân sẽ bất ổn. Do đó, chủ trương nắm quyền điều khiển đất nước của họ trong giai đoạn này là hợp lý. Đây có lẽ là thời kỳ quan trọng nhất trong giai đoạn kiến thiết. Qua sự phân tích này, người ta nhận thấy Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông đã nghiên cứu kỹ lưỡng về thể chế dân chủ, cũng như những đòi hỏi căn bản cần thiết của nó, trước khi vạch ra lộ trình cho sách lược Dân Chủ Hoá Đông Dương.

Thời kỳ Hiến chính là giai đoạn cuối của giai đoạn kiến thiết. Chế độ Dân chủ được hình thành, được mô tả một cách rõ nét và dễ hiểu, qua cách bầu cử với hình thức phổ thông đầu phiếu Quốc Dân Đại Hội, mà bây giờ được gọi là Quốc Hội. Cơ quan này sẽ do dân bầu bầu, và sẽ giữ nhiệm vụ soạn thảo hiến pháp. Đó là hình ảnh của một thể chế Dân chủ. Một sự kiện quan trọng khác cũng được đề cập đến trong giai đoạn này, là việc họ khẳng định Việt Nam Quốc Đảng sẽ rút lui, trao trả chính quyền lại cho toàn dân, vì nhiệm vụ cách mạng của họ đã hoàn tất. Đây là một hình ảnh cách mạng dân chủ mang đúng ý nghĩa cách mạng chân chính thật sư.

Nội dung của hai giai đoạn Huấn chính và Hiến chính tuy đơn giản, nhưng đã cho người ta hình dung được một thể chế dân chủ rõ ràng, sẽ được xây dựng ở Việt Nam. Thể chế dân chủ này có một số điều căn bản được tìm thấy trong các chế độ dân chủ của các nước trong thế kỷ 21. Chẳng hạn như hình thức phổ thông đầu phiếu, bầu cử Quốc Hội, soạn thảo hiến pháp, là những điều mà không thể có trong chế độ phong kiến, cũng như dưới chế độ Cộng sản.

Trong thế kỷ 21, tiến bộ và văn minh của nhân loại được xem là vượt bực so với so với những năm của thập niên 1920. Đó là nhờ khái niệm dân chủ được phổ biến, khuyến khích và áp dụng một cách rộng rãi trên toàn cầu. Khái niệm dân chủ bây giờ không còn là điều mơ hồ và khó hiểu như những năm tháng đưới chế độ thuộc địa nữa

Thật vậy, dẫu cho các văn kiện được chuyển dịch sang bất kỳ ngôn ngữ nào chăng nữa, nội dung nguyên thuỷ của văn kiện vẫn không thay đổi. Tóm lại, kết qủa sự nghiên cứu và phân tích các văn kiện cho phép người ta đã khẳng định là:

NGUYỄN THÁI HỌC, LÃNH TỤ CỦA VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG, ĐÃ VẠCH RA SÁCH LƯỢC DÂN CHỦ HOÁ ĐÔNG DƯƠNG VÀO NĂM 1927, KHI ÔNG MỚI 25 TUỔI.

Từ sự khẳng định này, người ta không do dự để kết luận như sau:

CUỘC TỔNG KHỞI NGHĨA YÊN BÁI KHÔNG CHỈ ĐƠN THUẦN LÀ ĐÁNH ĐUỔI NGƯỜI PHÁP, GIÀNH LẠI TỰ DO ĐỘC LẬP, MÀ MỤC ĐÍCH CAO HƠN CỦA CUỘC KHỞI NGHĨA LÀ LÀM MỘT CUỘC CÁCH MẠNG, THAY CHẾ ĐỘ QUÂN CHỦ PHONG KIẾN BẰNG MỘT THỂ CHẾ DÂN CHỦ TIẾN BỘ, MÀ HIỆN NAY THẾ GIƠI ĐANG CỔ SUÝ.

Phân tích lại lịch sử, người ta sẽ không lấy làm lạ về cái tư tưởng dân chủ rất mạnh mẽ, cũng như cái viễn kiến của Nguyễn Thái Học về một tương lai sáng sủa, tốt đẹp của Việt Nam trong một chế độ dân chủ. Là một sinh viên theo Tây học, sống trong chế độ phong kiến và thuộc địa, nên chắc chắn ông đã được trang bị một kiến thức khá bao quát về tình hình kinh tế và chính trị của Đông Dương và thế giới lúc đó.

Nguyễn Thái Học đã lĩnh hội những khuyết điểm và ưu điểm từ chế độ phong kiến đến chế độ thuộc địa, từ chủ nghĩa Xã Hội đến chủ thuyết Tam Dân, từ phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục của Phan Chu Trinh đến phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, và đặc biệt là sự hình thành của nền Dân chủ của Hoa Kỳ vào năm 1787, và thể chế Cộng hoà ở Pháp vào năm 1789. Một điều đáng chú ý là mặc dù chống Pháp nhưng ông rất thích đọc và nghiên cứu cuộc cách mạng của nước này (3). Bên cạnh đó, vì là sinh viên nên bạn bè và những đồng chí của ông đa số cũng nằm trong giới sinh viên theoTây học, trong số đó có người từng đi du học ở Pháp về. Sống và sinh hoạt trong một môi trường như vậy nên khái niệm Dân chủ tiến bộ đã sớm được hình thành trong tư tưởng của người lãnh tụ trẻ tuổi này.

Qua hình ảnh trên, người ta có thể hình dung là tư tưởng của Nguyễn Thái Học có lẽ chịu ảnh hưởng của chủ thuyết Tam Dân, của nền Dân chủ Hoa Kỳ, và của thể chế Cộng hoà ở Pháp. Căn cứ vào khẩu hiệu “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phuc”’ được Việt Nam Quốc Dân Đảng xử dụng sau này, có lập luận cho rằng Nguyễn Thái Học chủ trương theo Tam Dân chủ thuyết. Vì khẩu hiệu này cũng được đảng Công Sản Việt Nam xử dụng nên khó lòng kết luận được nguồn gốc của nó được phát xuất từ đâu. Vã lại, trong suốt thời gian hoạt động của ông, kể từ ngày thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, nghĩa là từ ngày 25 tháng 12 năm 1927 cho đến khi bước lên pháp trường Yên Bái vào ngày 17 tháng 6 năm 1930, theo sử liệu, thì khẩu hiệu này không hề được ông nhắc đến, cũng như không thấy xuất hiện trong các bút tích mà ông lưu lại cho hậu thế. Hoàng Văn Đào và Nhượng Tống (4), hai sáng lập viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng, cũng không hề đề cập đến khẩu hiệu đó, và cũng không hề nhắc đến việc ông dùng Tam Dân chủ thuyết làm nền tảng hoạt động trong các tài liệu của ho.

Một sư kiện tuy không được đề cập đến, không có nghĩa là sự kiện ấy không xảy ra. Tuy nhiên đây là một trường cá biệt, vì chủ trương và đường lối của một đảng cách mạng không phải là một sự kiện nhỏ nhặt, để có thể bị quên hoặc bỏ qua. Hơn nữa, cương lĩnh của đảng lại được tường thuật và ghi chép lại bởi những nhân chứng, mà vai trò của họ trong giai đoạn kể từ ngày thành lập Việt Nam Quốc Đảng, cho đến khi cuộc Khởi Nghĩa Yên Bái được phát động, đã được lịch sử chứng minh. Do vậy, đây là các tài liệu mà tính khã tín của nó đã được khẳng định, cũng như không thể nào bị nghi ngờ hoặc phủ nhận. Nói một cách khác, cụm từ Độc lập-Tự do-Hạnh phúc không được đề cập đến trong mục tiêu đấu tranh của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Vì vậy, lập luận cho rằng Nguyễn Thái Học dùng Tam Dân chủ thuyết làm nền tảng đấu tranh cho tổ chức này vẫn còn là một nghi vấn, hay nói đúng hơn là không có cơ sở thuyết phục vững chắc.

Tư tưởng cách mạng đã được hình thành nơi con người của Nguyễn Thái Học rất sớm. Ông đã co tư tưởng cách mạng khi mới mười tuổi. Đây là một sự kiện đặc biệt, đáng chú ý . Chi tiết này chứng tỏ suốt 18 năm sau đó, nghĩa là cho đến ngày phát động cuộc Khởi Nghĩa Yên Bái, có lẽ tâm hồn và suy nghĩ của Nguyễn Thái Học thường xuyên bị chiếm ngự bởi tư tưởng cách mạng cùng với các khuynh hướng chính trị và thể chế xã hội khác nhau. Cộng thêm cái băn khoăn và mặc cảm về sự nghèo nàn lạc hậu của đất nước, so với sự văn minh và giầu có của tây phương; với tất cả những ảnh hưởng và tác động đó, có lẽ là những nguyên nhân khiến ông quyết định làm một cuộc cách mạng dân chủ, và phác họa một tương lai sáng lạn cho Việt Nam qua sách lược Dân Chủ Hoá Đông Dương.

Chế độ thuộc địa và người Pháp đã làm Việt Nam đánh mất một cơ hội hiếm có để phát triễn, như những nước dân chủ tây phương từ những năm 1930. Thật vậy, với đà phát triễn của thế giới ngày nay, có lẽ người ta sẽ không quá chủ quan khi cho rằng, bẩy thập niên là thời gian đủ để cho Việt Nam trở thành một nước vững mạnh, một khi thể chế dân chủ được dùng làm nền tảng cho quá trình phát triễn của xứ sở ấy trong suốt bẩy mươi mấy năm qua.

Có lẽ đã đến lúc người Việt Nam nên cho thế giới hiểu là không phải mới đây, mà lâu rồi, nghĩa là hơn bẩy thập niên về trước, dân tộc Việt Nam đã lĩnh hội cái khái niệm dân chủ đang được nhiều quốc gia, kể cả nước Pháp, cổ suý khắp nơi trên thế giới. Thêm nữa, Việt Nam cũng nên cho các quốc gia trên thế giới biết rằng, dân tộc của họ đã từng chiến đấu cho tự do dân chủ, không những cho Việt Nam, mà còn cho cả Đông Dương từ năm 1927.

Làm sáng tỏ vấn đề này, quốc tế mới có cơ hội biết đến công lao và xương máu mà dân tộc Việt Nam đã đóng góp vào việc cổ suý phong trào dân chủ của thế giới, một sự đóng góp đã từng bị người Pháp xuyên tạc và bôi nhọ. Làm sáng tỏ vấn đề này, người Việt sẽ có thêm cái cơ hội đánh tan những suy nghĩ lệch lạc của một số người ngoại quốc cho rằng, miền Nam bị mất là vì những người Việt tự do đã không chịu chiến đấu.

Hơn một thập niên trở lại đây, những xung đột ở Trung Đông đã liên tiếp tạo ra các cuộc chiến ở vùng Vịnh, Aghnistan và Iraq, với sự tham chiến của nhiều nước trên thế giới. Những cuộc chiến tranh liên tiếp, cộng thêm biến cố 911 trong năm 2001 ở Hoa Kỳ, khiến người ta lo ngại trước một viễn ảnh là chiến tranh có thể ngày càng lan rộng đến các lục địa còn lại, nếu quốc tế không có giải pháp kịp thời

Với sự ủng hộ của đồng minh trong đó có Pháp, Tổng Thống Hoa Kỳ, George W. Bush, đã tuyên bố với thế giới về sách lược Dân Chủ Hoá Toàn Cầu, được xem là một giải pháp có khã năng ngăn chặn những cuộc chiến tranh đang có nguy cơ bùng nổ trong tương lai. Với sách lược này, người ta hy vọng Hoa Kỳ đang mở ra một lộ trình mới cho thế giới, nhằm giảm bớt chiến tranh, và đem lại một nền hoà bình lâu dài cho nhân loai. Thế giới hân hoan khi nghe lời tuyên bố của Tổng Thống Bush, đồng minh của Hoa Kỳ cũng hân hoan, ủng hộ, và tin tưởng vào giải pháp này.

Tuy nhiên, cách đây hơn bẩy thập niên, có lẽ người ta sẽ không mấy hân hoan khi khám phá ra rằng, trong một căn nhà nhỏ ở Hà Nội, một sinh viên Việt Nam 25 tuổi, đã bí mật vạch ra sách lược Dân Chủ Hoá Đông Dương, có cùng mục đích cơ bản với sách lược của thế giới đang cổ súy. Là việc đem lại thịnh vượng, và hoà bình cho người dân của ba nước thuộc địa Việt Nam, Lào và Cambodia.

Tên tuổi của Nguyễn Thái Học đã đi vào lịch sử Việt Nam. Ông là người anh hùng của dân tộc, và không còn là biểu tượng riêng của một đảng phái nàocả. Ngoài việc ngưỡng mộ cái khí tiết và cái chết hào hùng của ông, người đời sau còn ngưỡng mộ tinh thần ái quốc, tinh thần chỉ huy lãnh đạo, tinh thần tiến bộ, tinh thần yêu chuộng hoà bình, và tinh thần hy sinh của một người sinh viên, một nhà cách mạng, và một lãnh tụ 28 tuổi, quê quán ở Vĩnh Yên.

Lịch sử đấu tranh của Việt Nam không thiếu những anh hùng liệt nữ, nhưng trong lịch sử đấu tranh cận đại của dân tộc, phong thái và tinh thần của Nguyễn Thái Học, có lẽ được xem là hình ảnh gần gũi nhất với các thế hệ sau ông .

Tinh thần Nguyễn Thái Học nên được phát huy trong việc xây dựng, và đào tạo thế hệ mai sau của Việt Nam. Vi` cái vốn liếng quý giá nhất của một quốc gia là con người. Con người có tinh thần dân tộc – dĩ nhiên là không phải cực đoan và quá khích - càng cao thì trách nhiệm và sự quan tâm của họ đốI với quốc gia càng nhiều. Đây là nguyên lý và là nền tảng căn bản để phát triễn một quốc gia vững mạnh.

Trong các cuộc xuống đường đấu tranh của các dân tộc trên thế giới, ngoài lá cờ, người ta còn thấy có hình ảnh của một vị lãnh tụ hoặc anh hùng của dân tộc ấy. Từ bao năm nay, các cuộc xuống đường của người Việt tự do vẫn còn thiếu hình ảnh một nhân vật như vậy, và đó là một thiếu sót quan trọng. Một ví dụ cụ thể, đảng Cộng sản Việt Nam rất thành công khi xử dụng biểu tượng Hồ Chí Minh trong các phong trào vận động quần chúng của ho. Người Việt tự do cần một biểu tượng cho phong trào vận động quần chúng. Nguyễn Thái Học có lẽ là một biểu tượng thích hợp nhất cho công cuộc đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ hiện nay.

Người Việt của các thế hệ sau Nguyễn Thái Học, dù là người phương Bắc hay phương Nam, dù sống dưới bất kỳ chế độ nào, dù là Quốc gia hay Cộng sản, dù ở quốc nội hay hải ngoại, đều ca ngợi tinh thần của ông và hãnh diện về nhà cách mạng này. Cuộc sống riêng tư và cuộc đời đấu tranh của ông, cộng thêm cái kết thúc hào hùng ở pháp trường Yên Bái, nếu được kể lại, đôi khi người ta cứ ngỡ là một câu chuyện huyền thoại. Biết bao học sinh, sinh viên đã say mê, và bị cái hình ảnh hào hùng này lôi cuốn trong giờ sử học trong nhiều thập niên qua.

Câu chuyện này phải được truyền tụng vì đó là sự hãnh diện và niềm tin của dân tôc. Hoàn cảnh hiện tại của xã hội Việt Nam khiến người ta không khỏi lo âu về tiền đồ của đất nước. Cũng như người ta đang băn khoăn về thế hệ tương lai của xứ sở này. Việt Nam cần nhiều sinh viên Nguyễn Thái Học, không phải nhiều mà là rất nhiều, không phải rất nhiều mà cả một, hoặc hai, và có thể nhiều thế hệ, trong mọi lãnh vực, văn hoá, khoa học, xã hội, kinh tế, chính tri, để đấu tranh và vận động Tự Do Dân Chủ, để xây dựng một thể chế Dân chủ, để lãnh đạo một quốc gia Dân chủ, và để thúc đẩy một Việt Nam tụt hậu bắt kịp với đà tiến triễn của thế giới một cách thực tế, chứ không phải bằng khẩu hiệu nữa.Tuy nhiên, điều cần làm trước tiên là hãy trang bị cho tuổi trẻ Viet Nam một thứ vũ khicấn thiết. Thứ vũ khí ấy không phải là súng đan. Thứ vứ khí ấy không phải là tranh giành và đố ky. Thứ vũ khí ấy không phải là chia rẽ và thù hân. Thứ vũ khí ấy chính là cái Tinh Thần Nguyễn Thái Hoc.

Tinh thần của Nguyễn Thái Học đã vượt qua biên giới của chính tri và thù hân. Tên của ông đã được cả hai chế độ dùng đặt cho các con đường ở hầu hết các thành phố của hai miền Nam Bắc. Hiện nay ở Hà Nội, đường Nguyễn Thái Học một đại lộ dài, thật đẹp, và là con đường được một số quốc gia chọn làm nơi đặt toà đại sứ của ho. Khi chọn con đường này, có lẽ, nếu không nói là chắc chắn, họ cũng đã tìm hiểu ý nghĩa cái tên Nguyễn Thái Học, nghe kể về huyền thoại của ông, cũng như nghe nhắc đến cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái. Duy có điều là các quốc gia này chưa được nghe kể về sách lược Dân Chủ Hoá Đông Dương của dân tộc Việt Nạm

Cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái trong sách lược Dân Chủ Hoá Đông Dương của Nguyễn Thái Học, và Việt Nam Quốc Dân Đảng không những đã bắt đầu cho làn sóng đấu tranh chống Pháp với hình thức quy mô hơn, mà còn lồng vào đó một khuynh hướng xã hội, và chính trị tiến bộ rõ nét, mở đầu cho một hình thái đấu tranh mới cho các phong trào đấu tranh cho dân chủ, tự do và tiến bộ của Việt Nam trong đầu thế kỷ 20.

Cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái và sách lược Dân Chủ Hoá Đông Dương là các sự kiện quan trọng trong lịch sử đấu tranh cận đại của dân tộc Việt Nạm. Trong khi các quốc gia tiến bộ đang hô hào, cổ võ sách lược Dân Chủ Hoá Toàn Cầu, trong tình huống ấy, một cách công bằng và hợp lý, người ta cũng nên kêu gọi quốc tế nghiên cứu, đánh giá, và ghi nhận sự đóng góp quan trọng của dân tộc Việt Nam, và của nhà cách mạng Nguyễn Thái Học trong việc cổ suý phong trào Dân Chủ của thế giới.


CHÚ THÍCH:

(1) Hoàng Văn Đào, VNQĐ - Lịch Sử Đâ’u Tranh Cận Đại 1927-1054, 1970, tr. 33.
(2) Hoàng Văn Đào, VNQĐ - Lịch Sử Đâ’u Tranh Cận Đại 1927-1054, 1970, tr. 38, 39.
(3) Hoàng Văn Đào, VNQĐ - Lịch Sử Đâ’u Tranh Cận Đại 1927-1054, 1970, tr. 495.
(4) Nhượng Tống, Nguyễn Thái Học (1902-1930), Nhà xuất bản Việt Nam Thư Xã, 1945.

Accueil | TIN SINH HOẠT | HỘI ĐOÀN | NỐI MẠNG | GOM GÓP | THỰC DỤNG | LIÊN LẠC

Mọi chi tiết về trang @VNParis.net, xin liên lạc về  [Webmaster].
Cập nhật hóa ngày : 07 avril 2008.