|
Exposition des
Reliques du Bouddha
Oct 2006 à Paris

Trésors d’art du Vietnam, exposés au Musée GUIMET

| |
( Trích từ trang http://www.thongluan.org/ , đăng ngày 30/04/2006 )
Đề tài :
Tư Duy Lịch Sử
Nói với em, về chuyện “30 năm nhìn lại”
Nguyễn Lân
”… Chúng tôi, cũng như thế hệ
đi trước, đã và đang để lại một cộng đồng chia rẽ và không lối đi. …”
Em,
Tôi xin gửi tới em, lứa tuổi 20 và 30, những cảm nghĩ cho những ngày cuối năm
2005, trong việc “nhìn lại 30 năm”. Thời gian ba mươi năm, 1975 – 2005, là một
khoảng thời gian mà em, chúng tôi, cùng bao nhiêu người Việt Nam khác đã khởi
hành cuộc sống di dân trên đất người, kể từ biến cố lịch sử 1975, cho đến giờ
phút này. Chủ đề “Ba mươi năm nhìn lại” mà chúng tôi, thuộc lớp người 40, 50, 60
hay lớp người đi trước nữa, các bậc đàn anh khả kính của em, đã đề xuất ra, ở
nhiều nơi có đông người Việt Nam sinh sống trong các thành phố Bắc Mỹ.
Em thân mến, qua những trao đổi trước đây với em, tôi đều cảm nhận được tất cả
nỗi niềm thất vọng, chán chường và bất đắc chí của tuổi trẻ Việt Nam lưu lạc ở
hải ngoại. Vì thế hệ lứa tuổi 40 chúng tôi và lứa tuổi đi trước, tự cho là khôn
ngoan, chín chắn và kinh nghiệm, đã và đang làm cho cộng đồng, tập thể người
Việt hải ngoại tan nát và kiệt quệ.
Các em được sinh trưởng hay lớn khôn lên trong xã hội Bắc Mỹ nhưng lại bị dằn
vặt, trăn trở cho chính cuộc sống của mình, vì các em không có một quá khứ (với
quê hương bên kia bờ) và những liên hệ ràng buộc văn hóa phía sau, và các em
cũng không thể hòa nhập hoàn toàn ở quê hương thứ hai vì thực tế cuộc sống va
chạm với một quá khứ không vững vàng, như vừa nêu trên.
Nhìn quanh, các em chỉ thấy những bậc đàn anh, như chúng tôi, không thể đến gần
lại nhau và đem những viên gạch xây căn nhà chung cho em tạt ngang khi đến hay
tạm trú khi cần. Em chỉ thấy, lớp đàn anh khả kính, lăm le lấy cho riêng mình
những viên gạch chung kia, về xây nhà riêng cho phe phái mình, trong ba mươi năm
qua, kể từ ngày dòng người Việt trôi chảy khắp nơi trên tinh cầu này.
Tôi hiểu và thông cảm tâm tư buồn chán của em vì, 30 năm nhìn lại, cũng chưa có
gì. Có lẽ, tôi bi quan, thất vọng nên chấp nhận như thế hay bênh vực ý em. Tôi
không biết.
Công bằng mà nói, chúng tôi đã có một số thành tựu đây đó, trong việc đem người
mình đến với nhau, ngắn ngủi, qua những lễ hội, tổ chức gây quỹ, ủng hộ tham
gia, vv... Nhưng, tôi thú thật, chúng tôi và lứa tuổi đi trước, tự cho là khôn
ngoan, chín chắn và kinh nghiệm, đã thất bại một phần nào đáng kể vì đã để lại
cho em, lớp người đi sau, cùng tập thể chung, sự chán chường, ghê tởm cho một
cộng đồng tan nát và không ra gì.
Chúng tôi, cũng như thế hệ đi trước, đã và đang để lại một cộng đồng chia rẽ và
không lối đi. Em sẽ hỏi: ba mươi năm qua, chúng tôi đã làm được gì cho nhau,
ngoài chuyện chia bè kéo đảng, căm thù ngây ngất, tranh giành quyền chức để lấy
tiếng tăm cho cá nhân mình vì cơm no ấm cật rồi? Chúng tôi vẫn tiếp tục tranh
giành ảnh hưởng hoài, sao ở bất cứ nơi nào, khi có số đông người Việt tụ tập?
Em có nói nhiều về những bệnh không thuốc chữa của chúng tôi, như đi trễ về sớm
trong mỗi cuộc họp và sự thiếu tương kính dành cho nhau. Hình như đi trễ mới tỏ
ra là nhân vật quan trọng, còn đi đúng giờ là bị người khác coi thường. Nhưng
thật ra, như em nhận xét, chúng tôi coi thường các em và mọi người khác đã đi
đúng giờ. Chúng tôi đòi hỏi em và mọi người khác sự tôn kính, nhưng chúng tôi
chưa hề đưa ra trước hay trả đáp lại sau này, về sự kính trọng bình thường phải
có đó trong tập thể.
Những người như chúng tôi, như em nói, thích làm chính trị gia nhiều hơn vì
miệng dám ban phát nhiều mỹ từ hoa lá mị dân, nhưng không dám làm. Nói chung
chung, tào lao chống đối, chỉ trích thì hùng hồn, nhưng khi vào chi tiết hành
động, phân chia công việc thì ngồi im như tượng, để lộ ra đặc tính của sự lẩn
trốn, tài năng yếu kém về điều hành và thoái thoát lãnh đạo của bậc đàn anh, tự
cho là khôn ngoan, chín chắn và kinh nghiệm, mà thế hệ các em cần noi theo.
Một số người chúng tôi, cũng như thế hệ đi trước, có căn bệnh chủ quan, duy ý
chí kinh niên, như ý em nêu lên. Lúc nào cũng cho mình là đúng, là hay hơn những
người khác. Nếu người nào nói ngược lại hay không vừa ý mình là chúng tôi và lớp
lớn tuổi hơn cho “đội nón” VC hay CS liền, và cách biệt họ, tách họ xa khỏi nhóm
mà mình đang nắm chủ động. Rồi tấn công dồn dập bằng thư nặc danh hay bằng miệng
lưỡi người đời ác độc.
Cũng từ chứng bệnh chủ quan trên, các bậc đàn anh của các em, áp dụng dân chủ,
tự do theo cách một chiều và theo định nghĩa do chính các bậc đàn anh của em đề
ra. Dân chủ, tự do theo kiểu tôi thì được, nhưng theo kiểu ông A hay bà B, thì
sai lầm và không được. Chúng tôi thích áp đặt ý mình lên trên tập thể. Không vừa
ý thì giận hờn, rồi khiển trách và tìm cách quậy phá cho được, theo kiểu “ăn
không được thì đạp đổ”.
|
 |
|
con
thuyền Việt Nam |
Em kêu than, thêm rằng: lớp người đi trước không chịu khuất phục ai hay thua bất
cứ ai. Chỉ muốn làm “boss of the
bosses” hay “king of the kings”. Nếu nắm đầu một hội đoàn nào đó, thì chỉ muốn
hội đoàn mình là tiếng nói “đại diện duy nhất”, tiếng nói chính đáng nhất của
tập thể người Việt. Các hội đoàn khác, chỉ là phụ thuộc thôi. Vì thế, có các
cuộc tranh giành làm đại diện kéo dài không mệt mỏi trong ba mươi năm qua và tốn
biết bao công sức, tiền bạc thưa kiện và thời gian cho mọi người liên hệ, như
chúng tôi và lớp người trước nữa đang diễn trò hề, trước mắt các em và công
chúng.
Có một điều, em nói em không hiểu được, là chuyện lá cờ. Giống như bao nhiêu lá
cờ khác trên thế giới, lá cờ là biểu tượng thiêng liêng vì nó tượng trưng cho
một lý tưởng nào đó, và có sự hy sinh cao cả của bao nhiêu tiền nhân đã bảo vệ
nó. Em nói các em “biết rồi”, khổ lắm các anh ơi, các anh nói mãi. Chắc chắn,
các anh sẽ tiếp tục nói, cho đến lúc nằm xuống dưới ba thước đất, vẫn còn nói
trong bóng tối lòng đất.
Nhưng theo em, lá cờ phụ thuộc vào một thể chế nhất định tạm thời, vì quê hương
Việt Nam vẫn còn đó, dân tộc Việt Nam vẫn còn đó, còn mọi thể chế chỉ tạm thời
hiện hữu, rồi cũng trôi theo giòng lịch sử, như trong quá khứ thôi. Nhưng, em
không muốn có một lá cờ với quá khứ đau buồn và đổ nát hay một lá cờ phân chia
và lá cờ đó đã đi vào lịch sử, măc dù chúng ta, có chấp nhận hay không, thì nó
cũng là quá khứ và lịch sử. Và quá khứ (với một quê hương) thì không có chút gì
trong em hết. Có thể một vài người nghĩ khác, nhưng em nói với tôi rằng, nếu
chúng tôi vẫn khư khư ôm mộng tưởng với một quá khứ như vầy thì quá khứ đó vẫn
ám ảnh và không tha thứ chúng tôi. Chắc chắn, chúng tôi sẽ không tha thứ người
nào khác nếu họ không đồng tình với quá khứ hay ủng hộ chúng tôi.
Vì thế, trong cộng đồng, vẫn còn những bức tường hay rào cản về chuyện lá cờ xa
xưa, ở ngay hải ngoại, giữa những lớp đàn anh đi trước, giữ vững quá khứ, với
một số đông thầm lặng, không ý kiến về lá cờ, nhưng vẫn ngoái đầu về cố hương,
bên kia bờ đại dương.
Ngược lại, bên quê nhà có một chính quyền, cũng chủ quan và độc đoán như chúng
tôi, theo lời em nói, cai trị tám mươi triệu dân, với một lá cờ đỏ đáng bàn cãi
vì nhiều máu đổ, sẽ không khuất phục. Chắc chắn, chính quyền đó với quyền lực
hiện nắm trong tay, sẽ không lùi bước nhường bộ một số nhỏ lên tiếng đại diện ba
triệu người ở ngoài, với một lá cờ thuộc về lịch sử. Do đó, rào cản vô hình vẫn
còn tiếp nối ở hai bờ và hố chia cách vẫn còn đào sâu qua lòng đại dương.
Tôi hiểu ý em nói về tính phức tạp phân chia đó của lá cờ, vì cá nhân tôi có hai
kinh nghiệm riêng tư với lá cờ. Là một thiếu niên mới lớn, khi chiếm tranh chấm
dứt năm 75, tôi chưa có khái niệm nhiều, về lá cờ vàng. Lớn thêm được vài năm,
tôi vượt biên. Sang Mỹ, có duyên nợ với một “cô Bắc Kỳ nho nhỏ”, nên kết về làm
vợ. Nàng được sinh trưởng trong lòng thủ đô Hà Nội giữa tiếng bom rơi, lớn lên
dưới lá cờ đỏ sao vàng. Tôi biết rằng, nàng không được quyền chọn sinh ra ở miền
Nam, như tôi, nên đành chịu số phận riêng mình. Khi lập gia đình với tôi, nàng
không để ý đến chuyện cờ này cờ nọ, nhưng cảm thấy ngài ngại và không quen với
mầu cờ, lời ca theo bài cờ mà nàng không biết hát, trong những ngày lễ hội cộng
đồng khi tôi rủ nàng đi cùng. Thấy thế, tôi thương và thông cảm vì vợ mình cảm
thấy như bị bơ vơ, lạc lõng hay có rào chắn, nên ngừng lui tới.
Có lẽ, cảm tưởng của vợ tôi cũng giống như bao nhiêu người khác. Lá cờ của một
chính thể ở miền Nam đã đi vào lịch sử từ lâu, nhưng nó vẫn còn dựng đứng làm
bức tường vô hình ngăn cản một số người, ngay cả hơn phân nửa dân số ở Việt Nam
sinh sau ngày 75, tham gia vào các sinh hoạt. Điều này, tạo ra sự xa lạ, hố ngăn
cách và phân biệt phe phái. Một số người, không thoải mái, sẽ đứng ngoài, yên
lặng, nhìn một đám người treo lá cờ của một chính quyền đã chấm dứt trong thế kỷ
trước đó.
Giống như các bậc làm cha mẹ khác trên thế gian này, tôi không thể nói dối đứa
con trai của tôi, trước sự thật hiển nhiên của cuộc sống, khi cháu về nhà hỏi
bài, sau giờ khoa học xã hội ở trường, về lá cờ mà cháu thấy in trong sách và
được thầy cô dạy là không phải lá cờ vàng sọc đỏ. Tôi không muốn cháu lẫn lộn,
vì chuyện chính trị của người lớn, đem từ bên nhà sang đây, để kéo dài thêm nỗi
buồn nhớ. Tôi chỉ giải thích cho con trai tôi biết, rằng những gì cháu đang học
ở trường là đúng thực tế. Nhưng, nó đúng với một thời gian nào đó, vì cũng giống
như lịch sử các nước khác, lá cờ chỉ tạm thời hiện hữu với một thể chế ngắn hạn
rồi thôi, còn đất nước đó và con người đó, thì vẫn còn mãi mãi.
Thế nên, chuỵên cờ xí, em cũng biết, là không nhất định hay hẳn như vậy. Nhưng,
tôi đồng ý điều này: chúng tôi, thế hệ đi trước các em, thường ồn ào quá. Nhất
là những người trước nữa, người có quá khứ gắn bó với điều gì trong đời, thường
nhiệt tình kêu gào, đòi giữ vững và muốn người khác đi theo, với quá khứ đau
buồn riêng của họ hay của quê hương chung. Rất tiếc, một số đàn anh, đã dùng lối
“trưởng thượng”, “anh cả” để bắt ép người khác phục tòng theo lối mình, một cách
quá đáng và quá chủ quan, như em than trách chúng tôi. Vì thế, các em chán ngán,
không hiểu và xa lánh dần đám đàn anh khả kính đó.
|
 |
|
”ôi
đất nước u mê ngàn năm” |
Như em trách: bao nhiêu năm qua, chúng tôi đã bỏ quá nhiều thời gian, nỗ lực để
tranh giành, xâu xé lẫn nhau khiến kiệt quệ sức lực mọi người và làm lớp trẻ
chán chường bỏ trốn.
Có lẽ em nghĩ đúng: chúng tôi và thế hệ đi trước, thiếu... hoặc không có... văn
hóa, một văn hóa sinh hoạt tập thể, cộng đồng, để lôi kéo được nhiều người đóng
góp tích cực, vào công cuộc xây dựng một mái ấm, cho em ngừng nghỉ một vài
khoảng khắc nào đó, trong cuộc hành trình mệt mỏi, giữa hai thế giới bếp bênh
của cuộc sống di dân, mà chính em không có lựa chọn ngay từ lúc đầu.
Em kết án, trong ba mươi năm qua, chúng tôi và lớp người đi trước chỉ sống trong
nỗi hoài cổ xa mù, trong bóng tối quá khứ u ám, cùng những lối nghĩ độc đoán,
trưởng cả phong kiến của mình. Thế hệ các em bị nghẹt thở và muốn tung thoát ra
ngoài, đi tìm một bãi cỏ xanh mát, dưới bầu trời nắng ấm để hét vang ra tâm tư
ấm ức chịu đựng đã lâu ngày, dồn nén trong tim em.
Có thể lớp trẻ các em cần thở khoan khoái một luồng khí mới. Cần chúng tôi và
lớp người đi trước thay đổi suy tư và vượt qua quá khứ. Em muốn chúng tôi ngừng
chia bè phái, xé nát cộng đồng vì quyền cao chức hão. Em muốn chúng tôi bỏ lối
nghĩ chủ quan, độc đoán. Em muốn chúng tôi ghìm cái tôi đáng ghét của mình xuống
nữa để nhìn quanh ta một chút và ngồi xuống, ngồi gần với nhau hơn với người
khác ý mình.
Cuối cùng, em mong mỏi, chúng tôi sẽ mang từng viên gạch xây đắp chung thành căn
nhà Việt Nam và chấm dứt cảnh mỗi người đến tay không, đòi lấy gạch riêng về xây
căn nhà riêng biệt cho phe nhóm mình.
Suy ngẫm lại những gì em nêu ra, tôi nhận thấy rằng các em có quyền khiển trách
cứ lớp đàn anh đi trước mình, lớp tuổi 40, 50, 60 hay lớn hơn nữa, về những thất
bại, trong ba mươi năm nhìn lại. Lớp chúng tôi có lỗi, lớp tuổi chúng tôi có thể
tham lam ích kỷ quá, thế hệ chúng tôi có vẻ độc đoán quá với các em.
Ba mươi năm qua rồi... Thôi thì...
Thay đổi sẽ khó khăn với lớp tuổi đàn anh các em, nhưng chúng tôi sẽ cố. Chúng
tôi sẽ cố gắng kiềm hãm cái Tôi xuống, lắng nghe nhiều hơn từ mọi phía, tôn
trọng những ý khác nhau trong nền dân chủ tự do, học thêm cách thức sinh hoạt
tập thể, và nhất là biết tha thứ và hòa giải cho nhau trong mùa thương yêu, đang
đến gần, để hố chia cách không còn xa vời như trong quá khứ nữa. Có lẽ, chúng ta
cần ngồi lại với nhau tìm ra phương hướng để thông cảm, tha thứ trong mùa lễ
này, rồi tìm cách hợp tác một cách chân thành, để cùng dắt nhau đi tới tương
lai.
Mong các em quay về, trở lại tham gia đóng góp, để cùng nhau xây căn nhà chung,
cho tất cả mọi người có chỗ đến nghỉ ngơi đôi chút, trong cuộc sống di dân riêng
mình; cho tuổi trẻ Việt Nam có chỗ đến để nhận thêm nhiều hỗ trợ tinh thần,
trong cuộc tìm kiếm thành công cho mình, một bến bờ riêng an lành, nơi cuộc sống
hải ngoại.
Cartier Place, 22.12.2005
Nguyễn Lân
|